Ngôn ngữ:
   
Pháp luật về HIV-AIDS
   Nghị Định Về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội-(Phần 1)
  07-10-2014 - 9:40 am

Nghị định này quy định chính sách và chế độ trợ giúp cho các đối tượng xã hội có hoàn cảnh khó khăn, gọi chung là đối tượng bảo trợ xã hội.

CHÍNH PHỦ

---------

Số: 67/2007/NĐ-CP 

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---------------------------------------------------------------

Hà Nội, ngày 13   tháng 4 năm 2007

 

NGHỊ ĐỊNH Về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội

_____

 

NGHỊ ĐỊNH :

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Nghị định này quy định chính sách và chế độ trợ giúp cho các đối tượng xã hội có hoàn cảnh khó khăn, gọi chung là đối tượng bảo trợ xã hội.

Điều 2. Các chế độ trợ cấp, trợ giúp cho đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện công bằng, công khai, minh bạch, kịp thời, đúng đối tượng, đúng mục tiêu. Việc trợ cấp, trợ giúp được thực hiện chủ yếu tại gia đình và cộng đồng nơi đối tượng bảo trợ xã hội sinh sống. Mức trợ cấp, trợ giúp được thay đổi tuỳ thuộc vào mức sống tối thiểu của dân cư.

Điều 3. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài; người Việt Nam định cư ở nước ngoài tự nguyện giúp đỡ đối tượng bảo trợ xã hội.

Chương II

ĐỐI TƯỢNG BẢO TRỢ XÃ HỘI

Điều 4. Đối tượng bảo trợ xã hội thuộc diện trợ cấp hàng tháng do xã, phường, thị trấn quản lý gồm:

1. Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định tại Điều 78 của Bộ luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; trẻ em có cha và mẹ, hoặc cha hoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không còn người nuôi dưỡng; trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ gia đình nghèo.

Người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nhưng đang đi học văn hóa, học nghề, có hoàn cảnh như trẻ em nêu trên.

2. Người cao tuổi cô đơn, thuộc hộ gia đình nghèo; người cao tuổi còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa, thuộc hộ gia đình nghèo (theo chuẩn nghèo được Chính phủ quy định cho từng thời kỳ).

3. Người từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội.

4. Người tàn tật nặng không có khả năng lao động hoặc không có khả năng tự phục vụ, thuộc hộ gia đình nghèo.

5. Người mắc bệnh tâm thần thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm và có kết luận bệnh mãn tính, sống độc thân không nơi nương tựa hoặc gia đình thuộc diện hộ nghèo.

6. Người nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động, thuộc hộ gia đình nghèo.

7. Gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi.

8. Hộ gia đình có từ 02 người trở lên tàn tật nặng, không có khả năng tự phục vụ.

9. Người đơn thân thuộc diện hộ nghèo, đang nuôi con nhỏ dưới 16 tuổi; trường hợp con đang đi học văn hoá, học nghề được áp dụng đến dưới 18 tuổi.

Điều 5.  Đối tượng thuộc diện trợ cấp xã hội quy định tại các khoản 1, 2, 4, 5, 6 Điều 4 của Nghị định này thuộc diện đặc biệt khó khăn không tự lo được cuộc sống thì được xem xét tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội hoặc nhà xã hội tại cộng đồng.

Điều 6.

1. Đối tượng được trợ giúp đột xuất (một lần) là những người, hộ gia đình gặp khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc những lý do bất khả kháng khác gây ra, bao gồm:

a) Hộ gia đình có người chết, mất tích;

b) Hộ gia đình có người bị thương nặng;

c) Hộ gia đình có nhà bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng;

d) Hộ gia đình bị mất phương tiện sản xuất, lâm vào cảnh thiếu đói;

đ) Hộ gia đình phải di dời khẩn cấp do nguy cơ sạt lở đất, lũ quét;

e) Người bị đói do thiếu lương thực;

g) Người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú dẫn đến bị thương nặng, gia đình không biết để chăm sóc;

h) Người lang thang xin ăn trong thời gian tập trung chờ đưa về nơi cư trú.

2. Ủy ban nhân dân cấp xã, bệnh viện, cơ quan, đơn vị đứng ra tổ chức mai táng cho người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú bị chết, gia đình không biết để mai táng.



Ý kiến bạn đọc (0)


Đề nghị gõ tiếng Việt có dấu





Các tin khác:

  Nghị Định 69/NĐ-CP Quy định về xử phạt hành chính
  Luật phòng chống HIV/AIDS
  Bài trả lời các câu hỏi liên quan đến luật “Phòng chống AIDS cho mọi người
  Thông tư liên tịch (Phần 1).
  Nghị Định 69/NĐ-CP Quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực Y tế dự phòng, môi trường Y tế
  Nghị Định Về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội-(Phần 2)
  Nghị định Về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội-(Phần 3)
  Nghị Định Về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP -(Phần 1)
  Nghị Định Về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP-(Phần 3)
  Nghị Định Về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP-(phần 2)
  Bài trả lời chương trình phát thanh “Phòng chống AIDS cho mọi người”
  Một số quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS
  Thông Tư Liên Tịch (Phần 2)

Sự kiện sắp diễn ra
PHIẾU ĐÁNH GIÁ

 KHẢ NĂNG TIẾP CẬN 

THÔNG ĐIỆP 

TRUYỀN THÔNG 

HIV/AIDS










Loading...

Những điều bạn cần biết về CD4 [ 24624 | 0]


Mong muốn có con của cặp vợ chồng có tình trạng HIV Khác dấu [ 14000 | 0]


Tại sao phải tuân thủ điều trị? [ 10782 | 0]


Nghị Định Về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP-(phần 2) [ 7035 | 0]


Những điều bạn cần biết về HIV kháng thuốc làm sao để việc điều trị ARV của bạn hiệu quả [ 6309 | 0]

Hỗ trợ
Nguyễn Quang Bá
0938 447 862
Thanh Nhàn
0932109113
Thống kê
    Visitors: 4234479
    Online: 3

Liên kết website
Copyright © 2010 - 2011 WWW.HAAHCM.ORG
HỘI PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS TP HỒ CHÍ MINH
ĐC: 121 Lý Chính Thắng, Phường 7, Quận 3
ĐT: 08.39 309 309(234)
 Designed by Phongcachso1.vn